Bệnh mạn tính: Gánh nặng, cách chữa trị và ngăn ngừa

Bệnh mạn tính: Gánh nặng, cách chữa trị và ngăn ngừa

Thạc sỹ Đào Duy An

 

Trưởng Phòng khám Sông Trà,

 

Trưởng Dịch vụ BS & Chăm sóc Sức khỏe tại nhà 24/24 (Inn Care),

 

Công ty Núi Ấn Sông Trà (Inn Co., Ltd), TP.HCM.

Xu hướng bệnh tật thế giới cũng như Việt Nam đang thay đổi: Trước đây những cấp tính, bệnh lây nhiễm như dịch hạch, sốt rét, nhiễm khuẩn các loại hay gặp nhưng hiện nay các bệnh không lây nhiễm như bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư ngày càng nhiều và gây tốn kém cho cá nhân và cộng đồng.

 

Vậy bệnh mạn tính không lây nhiễm là gì, nguyên tắc chữa trị và ngừa ra sao?

 

Khái niệm

 

Bệnh mạn tính là bệnh tiến triển kéo dài hoặc hay tái phát và thời gian bệnh từ 3 tháng trở lên.

 

Bệnh mạn tính không thể ngừa bằng vắc xin, không thể chữa khỏi hoàn toàn và cũng không tự biến mất. Bệnh mạn tính phần lớn không do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng hoặc nấm gọi là bệnh mạn tính không lây nhiễm. Xu hướng thế giới là bệnh mạn tính không lây nhiễm ngày càng nhiều. Thống kê Bộ Y tế Việt Nam cũng cho thấy tỷ lệ mắc và chết do bệnh lý lây nhiễm và không lây nhiễm năm 1976 lần lượt là 56%, 53%, 43%, 45% thì đến năm 2003 các tỷ lệ này là 27%, 17%, 61%, 59%.

 

Bệnh có xu hướng tăng dần theo tuổi tác. Riêng nước Mỹ, ước tính đến năm 2049, số tàn tật chức năng do viêm xương khớp, đột quỵ, đái tháo đường, bệnh mạch vành, ung thư và suy tim tăng ít nhất 300 %. Thuật ngữ “mạn tính” có thể có hoặc không trong tên gọi bệnh lý.

 

Hình 1. Biến chứng hoại tử khô do đái tháo đường típ 2, một loại bệnh mạn tính, không được chữa trị tối ưu.

Các nhóm bệnh mạn tính gồm:

 

  • Bệnh hô hấp mạn tính: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm phế quản mạn, hen và khí phế thủng…
  • Bệnh nội tiết: Béo phì, đái tháo đường…
  • Bệnh lý tâm thần kinh: Sa sút trí tuệ, trầm cảm…
  • Bệnh tim mạch: Tăng huyết áp, suy tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh mạch máu não…
  • Bệnh tự miễn như viêm loét đại tràng, lupus ban đỏ…
  • Bệnh xương khớp mạn tính: Viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp (thoái khớp), loãng xương…
  • Hội chứng mệt mỏi mạn tính.
  • Suy thận mạn.
  • Ung thư.
  • Viêm gan mạn.

 

Gánh nặng

 

Bệnh mạn tính hiện nay là nguyên nhân tử vong và tàn tật chính trên thế giới. Các bệnh mạn tính không lây nhiễm chính như bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh đường hô hấp chiếm 57% trong 59 triệu tử vong hàng năm và 46% gánh nặng bệnh tật toàn cầu.

 

Mỗi năm, nhồi máu cơ tim gây chết 7,2 triệu người, đột quỵ (nhồi máu não và xuất huyết não) gây chết 5,5 triệu người còn tăng huyết áp và các bệnh tim khác gây chết 3,9 triệu người.

 

Hiện nay thế giới có hơn một tỉ người cân nặng vượt chuẩn và ít nhất 300 triệu người bị béo phì.

 

Ước tính có 177 triệu người đái tháo đường, phần lớn là đái tháo đường típ 2 và hai phần ba người đái tháo đường sống tại các nước đang phát triển.

 

Khoảng 75% bệnh tim mạch do các yếu tố chính sau gây ra: Loạn mỡ máu, tăng huyết áp, ít ăn rau và trái cây, ít vận động thân thể và hút thuốc lá.

 

Năm trong số 10 yếu tố nguy cơ gánh nặng bệnh tật toàn cầu theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2002: Béo phì, tăng huyết áp, loạn mỡ máu, uống rượu và hút thuốc lá là nguyên nhân gây bệnh mạn tính.

 

Thống kê Hoa Kỳ cho thấy người từ 65 tuổi trở lên, có 75% bị ít nhất một bệnh mạn tính và 50% bị ít nhất 2 bệnh mạn tính.

 

Cách chữa trị

 

Đặc điểm nổi bật bệnh mạn tính là chữa trị lâu dài, uống thuốc hàng ngày nhằm cải thiện chất lượng sống và hạn chế tối đa biến chứng thực thể và chức năng.

 

Chữa trị kết hợp dùng thuốc, tập luyện phục hồi chức năng và thay đổi lối sống.

 

Khi bị bệnh mạn tính, người bệnh kiên trì tuân thủ chữa trị, tái khám đều đặn, không tự ý điều chỉnh cách thức chữa trị như tự ngưng thuốc, giảm liều thuốc, thay thuốc hoặc chuyển cách thức điều trị như từ việc đang dùng thuốc tân dược (thuốc tây) chuyển sang dùng thuốc bắc hoặc chữa theo kinh nghiệm dân gian.

 

Ngăn ngừa

 

  • Ăn nhiều rau và trái cây cũng như đậu và ngũ cốc.
  • Vận động thể lực mức độ trung bình mỗi 30 phút, ít nhất 5 lần mỗi tuần.
  • Chuyển từ ăn mỡ động vật bão hoà sang dầu thực vật chưa bão hoà.
  • Giảm ăn mỡ, muối và đường.
  • Duy trì cân nặng chuẩn (chỉ số khối cơ thể nằm trong khoảng 18,5 đến 24,9, tính bằng cách lấy cân nặng tính bằng kilogam chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét).
  • Không hút thuốc hoặc bỏ hút thuốc.

 

Tác dụng: Có đến 80% bệnh mạch vành, 90% đái tháo đường típ 2 và 1/3 ung thư có thể tránh được nhờ chế độ ăn lành mạnh, tăng vận động thể lực và bỏ hút thuốc.

 

Sàng lọc bệnh

 

Sàng lọc một số ung thư như ung thư đại tràng, tiền liệt tuyến, ung thư vú tuỳ độ tuổi tương ứng; ví dụ: đàn ông từ 50 tuổi trở đi nên nội soi đại tràng để phát hiện ung thư đại tràng và xét nghiệm dấu ấn sinh học kháng nguyên tiền liệt tuyến (PSA-Prostate-specific antigen) 3 năm/lần để phát hiện ung thư tiền liệt tuyến còn phụ nữ từ 50 tuổi trở lên thì tự khám vú hàng tháng một lần và chụp tuyến vú 1-2 năm/lần đối với người có nguy cơ cao.

 

Chữa trị sớm

 

Khi đã bị rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, đái tháo đường, gút…việc chữa trị giúp bình ổn bệnh, hạn chế biến chứng, giúp người bệnh sinh hoạt bình thường, đặc biệt là giảm chi phí; ví dụ: nếu không kiểm soát tốt tăng huyết áp thì người bệnh có thể bị nhồi máu cơ tim; lúc xảy ra biến chứng, người bệnh không những phải chữa trị tăng huyết áp mà còn thêm chi phí chữa trị nhồi máu cơ tim vốn tốn kém gấp bội và sau khi qua cơn nguy cấp thì chi phí chữa bệnh bao gồm chi phí chữa tăng huyết áp và chi phí chữa di chứng nhồi máu cơ tim.

 

Ngạn ngữ cha ông “phòng bệnh hơn chữa bệnh” rất phù hợp trong ngăn ngừa bệnh mạn tính.

Bài viết khác

Xơ vữa động mạch là gì mà hay nhắc thế? (18/05/2021) COVID-19, nín thở? (03/08/2021) Điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc: Vai trò của người bệnh (14/01/2020) Sốt cao co giật ở trẻ em (18/01/2020) Nỗi lo HP (18/01/2020)
ajax-loader